https://youtu.be/TscO4pdm4G0 Năm 1929, y học thế giới vẫn coi trái tim là một "vùng cấm". Giới bác sĩ thời bấy giờ tin rằng bất kỳ một vật thể lạ nào chạm vào tim cũng sẽ kích hoạt cơ chế sốc phản vệ và gây tử vong ngay lập tức. Khi đó, chẩn đoán bệnh tim chủ yếu dựa vào chiếc ống nghe, còn việc điều trị giống như trò may rủi.
Nhưng Werner Forssmann, một bác sĩ nội trú 25 tuổi người Đức, lại có một ý tưởng không tưởng: Tại sao không luồn một ống thông mềm từ mạch máu ở tay thẳng vào tim để truyền thuốc trực tiếp hoặc đo áp suất? Khi ông đem ý tưởng này trình bày với vị trưởng khoa, câu trả lời nhận được là một cái lắc đầu dứt khoát kèm lời đe dọa cấm hành nghề.
Bị dồn vào đường cùng, Forssmann quyết định tự mình thực hiện. Nhưng có một trở ngại lớn: Toàn bộ dụng cụ phẫu thuật vô trùng đều do nữ y tá trưởng Gerda Ditzen quản lý. Không có sự đồng ý của cô, ông không thể chạm vào một sợi chỉ, nói gì đến ống thông.
Thế là, mỹ nam kế bắt đầu. Ý thức được vẻ ngoài điển trai của mình, chàng bác sĩ trẻ liên tục tán tỉnh, dùng những lời mật ngọt để làm lung lạc trái tim cô y tá. Khi Gerda hoàn toàn đổ gục và biết được ý định của Forssmann, vì quá lo lắng cho tính mạng của người yêu, cô đã đưa ra một quyết định liều lĩnh: "Hãy làm thí nghiệm đó trên người em, em không muốn anh gặp nguy hiểm."
Đó chính là lúc cú lừa thế kỷ diễn ra. Forssmann giả vờ đồng ý. Ông bảo Gerda nằm lên bàn phẫu thuật, trói chặt tay chân cô lại với lý do "để tránh cử động nguy hiểm khi luồn ống". Nhưng ngay khi cô y tá không thể nhúc nhích, Forssmann liền quay lưng lại, tự tiêm thuốc tê vào cánh tay trái của chính mình.
Trước sự ngỡ ngàng và bất lực của Gerda, Forssmann tự rạch tay, tìm đến tĩnh mạch và bắt đầu đẩy một chiếc ống thông tiểu bằng cao su dài tới 60 cm ngược dòng máu đi lên phía vai. Khi chiếc ống đã đi được một nửa quãng đường, ông mới cởi trói cho Gerda và bảo cô gọi phòng X-quang.
Dù giận tím người vì bị lừa, nhưng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc của người tình, Gerda không còn cách nào khác ngoài việc dìu Forssmann – lúc này đang có một chiếc ống thọc sâu trong người – đi bộ xuống phòng X-quang ở tầng dưới. Dưới màn hình soi huỳnh quang, Forssmann lạnh lùng đẩy nốt nửa chiếc ống còn lại vào thẳng tâm nhĩ phải của tim mình và yêu cầu kỹ thuật viên bấm máy chụp lại làm bằng chứng. Tấm hình X-quang lịch sử đó cho thấy rõ ràng: Chiếc ống nằm gọn trong tim, còn Forssmann thì hoàn toàn tỉnh táo, nhịp tim vẫn đập bình thường.
Thay vì được tung hô, Forssmann phải đối mặt với một bi kịch kéo dài. Ông bị sa thải ngay sau đó vì vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Giới y học Đức coi ông như một kẻ tâm thần lập dị. Suốt nhiều năm sau, ông bị tẩy chay đến mức phải bỏ hẳn ngành tim mạch để chuyển sang làm bác sĩ phụ khoa và u học tại một ngôi làng nhỏ, rồi sau đó là chuỗi ngày làm tiều phu và rơi vào trại tập trung tù binh thời Thế chiến II.
Nhưng vàng thật thì không sợ lửa. Hơn 20 năm sau, hai nhà khoa học người Mỹ đã đọc được bài báo cũ của ông, ứng dụng phương pháp này để cứu sống hàng triệu bệnh nhân và mở ra kỷ nguyên mới cho ngành thông tim, can thiệp mạch vành. Năm 1956, Werner Forssmann được triệu tập từ một phòng khám vùng quê nghèo để đến Stockholm nhận giải Nobel Y học danh giá. Khi phóng viên đến phỏng vấn, ông chỉ cười lớn và nói: "Tôi cảm thấy mình giống như một mục sư làng bỗng một ngày thức dậy thấy mình được phong làm Giám mục vậy."
Từ một "kẻ điên" bị người đời ruồng rẫy cho đến chủ nhân giải thưởng Nobel, Werner Forssmann đã chứng minh rằng: Đôi khi để thay đổi thế giới, người ta không chỉ cần một cái đầu lạnh, một trái tim nóng, mà còn cần cả một chút "liều mạng" vô tiền khoáng hậu. Và cả đẹp trai nữa
https://youtu.be/uFE7HfqOQig Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đầy rẫy những mưu mô và sự đối đầu nghẹt thở giữa các siêu cường, các cơ quan tình báo hàng đầu thế giới đã nghĩ ra đủ mọi chiêu trò điên rồ nhất để thao túng các nguyên thủ quốc gia. Nhưng có một câu chuyện hoàn toàn có thật, ly kỳ và hài hước tới mức vô tiền khoáng hậu về Tổng thống đầu tiên của Indonesia – ông Sukarno. Cả CIA (Mỹ) lẫn KGB (Liên Xô) đều đã lập những kế hoạch mật nhằm dùng "phim người lớn" để tống tiền ông, nhưng cái kết nhận về lại khiến các trùm mật vụ phải khóc dở mếu dở.
Vào những năm 1950, Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Sukarno là một quốc gia có vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng tại Đông Nam Á. Cả hai phe tư bản lẫn xã hội chủ nghĩa đều thèm khát kéo quốc gia này về phía mình. Tuy nhiên, Sukarno là một nhà chính trị cực kỳ khôn khéo và có lối sống rất phóng khoáng, đặc biệt là ông nổi tiếng với nết mê gái đẹp. Chính "điểm yếu chết người" này đã lọt vào tầm ngắm của các cơ quan mật vụ.
Đầu tiên là CIA. Nhận thấy phong cách đạo đức của các chính trị gia phương Tây rất sợ dính dáng tới bê bối tình ái, CIA tin rằng nếu tung ra một cuốn phim nhạy cảm của Sukarno, danh tiếng của ông sẽ tiêu tan trong một đêm, tạo điều kiện cho một chính quyền mới thân Mỹ lên thay thế. Đen đủi thay, CIA thời đó không cách nào tiếp cận và quay lén được ông. Thế là họ chơi một vố liều: Tự sản xuất một bộ phim giả mạo.
Cơ quan tình báo Mỹ đã chi rất nhiều tiền để tuyển một diễn viên có ngoại hình hơi giống Sukarno, thậm chí đặt làm một chiếc mặt nạ da người tinh vi để hóa trang. Bộ phim được đặt tên là "Happy Days" (Những ngày hạnh phúc). Nhưng vì sợ lộ mặt nạ giả, đạo diễn của CIA chỉ dám quay những góc máy rất xa và mờ ảo. Kết cục là khi đem đi thử nghiệm, bộ phim thất bại thảm hại. Khán giả chẳng ai thèm xem vì phim nhạy cảm mà góc quay xa tít tắp, chẳng nhìn rõ mặt ai với ai, chưa kể thời đó chưa có internet để phát tán rộng rãi.
Thấy Mỹ làm ăn dở quá, KGB của Liên Xô quyết định ra tay chuyên nghiệp hơn. Trong những chuyến công du của Sukarno đến Moscow, Liên Xô đã bí mật cài cắm một đội ngũ tiếp viên hàng không tóc vàng cực kỳ xinh đẹp để tháp tùng và tiếp đón ông. Tại căn biệt thự sang trọng dành cho nguyên thủ, KGB đã lắp đặt hệ thống camera giấu kín ở khắp mọi góc phòng. Và đúng như dự đoán, họ đã ghi lại được toàn bộ những thước phim mây mưa vô cùng sắc nét, chân thực của vị Tổng thống này.
KGB hí hửng biên tập thành một sản phẩm hoàn hảo, rồi cử các mật vụ cấp cao đem cuốn băng tới gặp thẳng Sukarno. Họ đĩnh đạc ra tối hậu thư: "Thưa Tổng thống, nếu ông không chịu hợp tác và có thái độ chính trị đàng hoàng với Liên Xô, cuốn phim sắc nét không che này sẽ được công chiếu rộng rãi ra toàn thế giới. Lúc đó danh dự của ông sẽ hoàn toàn đổ sông đổ biển".
Theo mọi logic thông thường của các điệp viên, Sukarno sẽ phải sợ hãi, quỳ gối xin tha và nhượng bộ. Nhưng không! Phản ứng của vị Tổng thống Indonesia lúc đó đã đi thẳng vào giai thoại tình báo thế giới. Thay vì hoảng loạn, Sukarno tỏ ra vô cùng hào hứng, mắt sáng rực lên và thản nhiên bảo các mật vụ KGB: "Trời đất ơi, quay đẹp và rõ nét dữ vậy sao? Mấy anh làm ơn in sao cho tôi thêm nhiều bản nữa được không? Để tôi đem về nước chiếu cho người dân của tôi coi chung cho vui"!
Các mật vụ Liên Xô nghe xong chỉ biết đứng hình, ôm đầu bứt tóc vì hoàn toàn bất lực. Họ đã tính toán sai một điều cốt lõi về văn hóa. Ở phương Tây, bê bối tình dục có thể giết chết một sự nghiệp chính trị; nhưng ở Indonesia thời bấy giờ, Sukarno là một vị vua không vương miện, và người dân nước ông lại cực kỳ sùng bái bản lĩnh nam tính của lãnh tụ. Việc có một cuốn phim chứng minh vị Tổng thống của họ vô cùng dũng mãnh trước các mỹ nhân phương Tây không những không làm ông mất uy tín, mà còn khiến dân chúng... nể phục và tự hào hơn về sức khỏe của nguyên thủ mình.
Kế hoạch "Mỹ nhân kế" tốn biết bao tâm huyết và tiền bạc của kịch bản Chiến tranh Lạnh cuối cùng phá sản hoàn toàn vì sự "trơ trẽn" và tự tin vô hạn của một ông Tổng thống thích sống thật với bản năng. Nhìn lại lịch sử để thấy, đôi khi những vũ khí tình báo tối tân và sắc bén nhất cũng phải chịu thua trước sự khác biệt về văn hóa và tâm lý của con người.
#HistoryNehttps://youtu.be/GOAnhDLLqQw Có bao giờ bạn tự hỏi, ranh giới giữa một thiên tài lỗi lạc và một kẻ lập dị là gì không? Đôi khi, hai khái niệm đó thực chất chỉ là một. Lịch sử đã chứng minh rất nhiều bậc vĩ nhân sở hữu tài năng xuất chúng lại đi kèm với những thói quen kỳ quặc đến mức người đương thời phải lắc đầu ngao ngán. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất chính là Michelangelo Buonarroti – gã khổng lồ của thời kỳ Phục hưng Ý, người đã để lại cho nhân loại những kiệt tác điêu khắc và hội họa vô tiền khoáng hậu, nhưng cũng là người sở hữu lối sống "độc nhất vô nhị".
Nếu lật lại những trang sử về cuộc đời ông, chúng ta sẽ thấy một tài năng nở rộ từ rất sớm, sớm đến mức kinh ngạc. Khi mới chỉ 24 tuổi – cái tuổi mà nhiều người trong chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm hướng đi cho cuộc đời – Michelangelo đã khiến cả giới nghệ thuật bấy giờ chấn động với bức tượng "Đức Mẹ Sầu Bi" (Pieta). Khối đá cẩm thạch thô ráp, vô tri qua bàn tay đục đẽo của ông đã trở nên mềm mại, sống động và chứa chan cảm xúc như thể có một linh hồn đang ẩn giấu bên trong chỉ chờ ông giải phóng. Đến năm 29 tuổi, ông tiếp tục hoàn thành bức tượng chàng David cao lớn, một biểu tượng hoàn mỹ của vẻ đẹp con người. Bản thân Michelangelo luôn tự coi mình là một nhà điêu khắc, ông yêu tiếng búa đục đá hơn tất thảy. Thế nhưng, khi được giao nhiệm vụ vẽ vòm trần Nhà nguyện Sistine, ông lại tạo nên một một hệ thống bích họa vĩ đại mà đỉnh cao là bức "Sự sáng tạo ra Adam". Để hoàn thành nó, ông đã phải nằm ngửa trên giàn giáo suốt nhiều năm trời, chịu đựng cảnh sơn và bụi bặm rơi thẳng vào mặt, vào mắt, tạo nên một áp lực khủng khiếp cả về thể xác lẫn tinh thần.
Chính sự tập trung cao độ đến mức cực đoan đó đã nhào nặn nên một Michelangelo vô cùng lập dị. Các nghiên cứu hiện đại khi nhìn lại những ghi chép về ông đều đồng tình rằng vị danh họa này có những dấu hiệu rất rõ ràng của hội chứng tự kỷ. Ông dường như không có nhu cầu giao tiếp xã hội và gặp khó khăn lớn trong việc kết bạn. Ông không biết cách trò chuyện hay xã giao, nếu có ai đó đến bắt chuyện hoặc bàn công việc, ông thường chỉ nói vài câu cộc lốc rồi lẳng lặng bỏ đi mà không mảy may quan tâm đến cảm xúc của đối phương. Thậm chí, ngay cả đám tang của người anh trai ruột, ông cũng chọn cách không xuất hiện, đơn giản vì ông không biết phải đối mặt và nói năng thế nào trong những tình huống như vậy. Tất cả thế giới của ông chỉ thu bé lại xung quanh các tác phẩm và những khối đá.
Sự lập dị đỉnh điểm của Michelangelo nằm ở thói quen sinh hoạt khiến người đời sau phải rùng mình, đó là sở thích "ở dơ" có một không hai. Ai cũng biết vào thời Trung cổ và Phục hưng, việc vệ sinh cá nhân của con người vốn đã rất hạn chế vì người ta tin rằng tắm rửa nhiều sẽ rước bệnh vào người. Thế nhưng, ngay cả trong một xã hội không mấy sạch sẽ đó, Michelangelo vẫn được xếp vào hàng "siêu ở dơ". Ông có thể trải qua nhiều tuần liền không chạm vào một giọt nước. Khi đi ngủ, ông giữ nguyên quần áo trên người và thậm chí không buồn tháo giày. Ông đi những đôi giày da cũ kỹ từ ngày này qua ngày khác, hỏng thì sửa chứ không chịu thay mới. Người ta kể lại rằng, đến tận lúc ông qua đời, khi người ta cố gắng cởi bỏ đôi giày ra khỏi chân ông, thì cả mảng da chân cũng bong ra theo vì giày và da thịt đã tự bao giờ "hợp làm một" sau nhiều năm trời không tháo. Kỳ lạ hơn nữa, dù tài năng xuất chúng giúp ông kiếm được những khoản thù lao khổng lồ từ các giáo hoàng và giới quý tộc, Michelangelo lại sống khổ hạnh như một kẻ nghèo khổ. Ông không màng đến quần áo đẹp, chẳng mộng cao lương mỹ vị, mỗi ngày chỉ ăn một chút thức ăn đạm bạc qua bữa. Ông cũng ngủ rất ít, thường chỉ chợp mắt vài tiếng ngay tại nơi làm việc khi cơ thể đã quá mệt mỏi, rồi thức dậy lại tiếp tục cầm đục, cầm cọ. Khi tạc tượng David, ông thậm chí còn cho dựng một bức tường cao bao quanh khu vực làm việc suốt ba năm trời để đảm bảo không một ai có thể dòm ngó hay làm phiền quá trình sáng tạo của mình.
Michelangelo đã sống một cuộc đời cô độc, xù xì và gai góc như chính những khối đá thô mà ông đối mặt mỗi ngày. Và sự lập dị, sự ám ảnh đến mức quên mình ấy mới là chất xúc tác để tạo nên một bộ óc thiên tài, để lại cho hậu thế những tạo tác vượt thời gian mà hàng trăm năm sau nhìn lại, chúng ta vẫn phải nghiêng mình thán phục
https://youtu.be/AnVJ_Cpkryw#HistoryNe Đêm ngày 26 tháng 9 năm 1983, thế giới suýt chút nữa đã chìm trong thảm họa hạt nhân nếu không có cái đầu lạnh của một trung tá Liên Xô mang tên Stanislav Petrov.
Vào năm 1983, căng thẳng Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô đang ở mức cực kỳ đỉnh điểm sau vụ việc Liên Xô bắn hạ một máy bay hành khách của Hàn Quốc (chuyến bay KAL 007) vài tuần trước đó. Trong bầu không khí nhạy cảm ấy, Trung tá Stanislav Petrov thuộc Lực lượng Phòng không Không quân Liên Xô được phân công làm sĩ quan trực ban tại Serpukhov-15, một trung tâm chỉ huy boong-ke bí mật nằm ở ngoại ô Moscow, có nhiệm vụ vận hành và giám sát hệ thống vệ tinh cảnh báo sớm mang tên "Oko".
Ngay sau nửa đêm, vào lúc 0h15, bầu không khí yên tĩnh của boong-ke bất ngờ bị phá vỡ. Hệ thống máy tính trung tâm kích hoạt còi báo động dữ dội, đèn đỏ bật sáng rực cùng dòng chữ "LAUNCH" (Phóng) xuất hiện trên màn hình. Hệ thống vệ tinh thông báo một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đã được phóng đi từ một căn cứ quân sự ở Mỹ và đang bay thẳng về phía Liên Xô.
Theo đúng quy trình nghiêm ngặt và học thuyết quân sự thời bấy giờ, Petrov có nhiệm vụ phải lập tức báo cáo tín hiệu cảnh báo này lên chuỗi chỉ huy tối cao của quân đội Liên Xô. Từ thông tin của ông, Điện Kremlin sẽ chỉ có khoảng vài phút để ra quyết định kích hoạt một đòn phản công hạt nhân toàn diện nhằm vào nước Mỹ trước khi tên lửa kịp khai hỏa mục tiêu.
Tuy nhiên, thay vì hoảng loạn nhấc máy gọi cho cấp trên, Petrov đã chọn đứng im và suy ngẫm. Giữa tiếng còi báo động inh ỏi, máy tính tiếp tục nhảy cấp độ nguy hiểm lên mức tối cao: "MISSILE STRIKE" (Tấn công tên lửa). Hệ thống liên tiếp báo cáo thêm quả tên lửa thứ 2, thứ 3, thứ 4 rồi thứ 5 được phóng đi. Tổng cộng có 5 quả tên lửa liên lục địa đang hướng về phía họ. Các nhân viên cấp dưới trong boong-ke đều rơi vào trạng thái căng thẳng tột độ, đồng loạt nhìn về phía Petrov để chờ lệnh.
Trong khoảnh khắc sinh tử quyết định vận mệnh của hàng triệu sinh mạng, Trung tá Petrov đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: Ông bỏ qua quy trình bắt buộc và gọi điện báo cáo với cấp trên rằng đây hoàn toàn là một báo động giả của hệ thống máy tính. Quyết định của Petrov không phải là một sự liều lĩnh vô căn cứ, mà dựa trên hai lập luận logic vô cùng sắc bén:
Thứ nhất, Petrov biết rõ hệ thống máy tính và vệ tinh cảnh báo sớm "Oko" của Liên Xô lúc đó mới được đưa vào vận hành chưa lâu và vẫn tồn tại nhiều lỗi kỹ thuật. Bản thân ông là một kỹ sư có chuyên môn về hệ thống, nên ông không hoàn toàn tin tưởng vào độ chuẩn xác của máy móc. Đồng thời, khi ông liên hệ với các toán vận hành radar mặt đất, các trạm này báo cáo hoàn toàn không phát hiện bất kỳ mục tiêu nào ở đường chân trời.
Thứ hai, đây là lập luận quan trọng nhất thuộc về tư duy chiến lược. Petrov cho rằng, nếu nước Mỹ thực sự phát động một cuộc tấn công phủ đầu nhằm xóa sổ hoàn toàn khả năng đối kháng của Liên Xô, họ chắc chắn sẽ tung ra một làn sóng tấn công khổng lồ với hàng trăm, hàng ngàn quả tên lửa cùng lúc để áp đảo đối phương. Việc hệ thống chỉ báo vỏn vẹn 5 quả tên lửa phóng đi là một điều hoàn toàn phi logic về mặt quân sự.
Petrov đã chọn tin vào trực giác và tư duy của con người thay vì tin vào máy tính. Ông ôm đầu chờ đợi trong căng thẳng. Sau hơn 20 phút nghẹt thở trôi qua, các trạm radar mặt đất vẫn im ắng và không có bất kỳ vụ nổ nào xảy ra. Ván cược mạng sống của ông đã hoàn toàn chính xác. Thế chiến thứ ba đã được ngăn chặn thành công chỉ nhờ một cái đầu lạnh.
Cuộc điều tra kỹ lưỡng của các kỹ sư Liên Xô sau đó đã tìm ra nguyên nhân cốt lõi của sự cố. Hệ thống vệ tinh cảnh báo sớm của Liên Xô thực chất đã bị đánh lừa bởi một hiện tượng tự nhiên cực kỳ hiếm gặp. Đó là sự căn chỉnh hoàn hảo về mặt vị trí giữa quỹ đạo vệ tinh, các đám mây ở độ cao lớn và ánh sáng mặt trời. Ánh nắng phản chiếu mạnh từ các đám mây đã vô tình tạo ra các vệt sáng hồng ngoại, khiến cảm biến của vệ tinh nhận diện nhầm thành đuôi lửa của các tên lửa đạn đạo đang phóng đi.
Tuy vậy, Stanislav Petrov không hề được vinh danh hay khen thưởng vì quân đội Liên Xô không muốn để lộ lỗ hổng của hệ thống phòng thủ. Ông thậm chí còn bị khiển trách vì không ghi chép đầy đủ nhật ký tác chiến trong đêm xảy ra sự cố. Câu chuyện của ông chỉ được bước ra ánh sáng vào thập niên 1990.
Máy móc dẫu có hiện đại đến đâu cũng có thể gặp sai sót. Hòa bình thế giới mà chúng ta đang thừa hưởng ngày hôm nay đôi khi không phải được bảo vệ bởi những vũ khí tối tân, mà được cứu nguy bởi bản lĩnh, quy trình kiểm duyệt nghiêm ngặt và sự sáng suốt của con người trước những lầm tưởng kỹ thuật. #HistoryNe
https://youtu.be/5yyC57QCpdg Chủ đề #HistoryNe hôm nay là về Leonardo Da Vinci mọi người ơi. Từ giờ mọi người sẽ đc coi clip thường xuyên hơn trên kênh lịch sử này, nên nhớ follow sub và donate để kênh có động lực hơn nhaaaa. 2 kênh kia là @MrDualeone và @Tamlynene đó.
Donate: Momo 0932539510 or VCB 0441003723804, Nguyễn Lê Minh Ngọc or Paypal @MrDualeone or patreon.com/dualeone or Venmo HuyNguyenNe or Zelle dualeone@gmail.com or Binance P2P 11325171 nha
Mọi người ơi, lúc trước yt này chuyên review. Nhưng hiện tại việc review đã chuyển qua kênh @MrDualeone là chủ yếu, còn kênh chỉ tập trung vào những chủ đề lịch sử #HistoryNe . Mục đích tách kênh là để giúp mọi người dễ tập trung theo dõi từng chủ đề hơn là đang thích coi lịch sử thì phải coi review manga. Mọi người follow kênh nhennn
History Nè
https://youtu.be/TscO4pdm4G0
Năm 1929, y học thế giới vẫn coi trái tim là một "vùng cấm". Giới bác sĩ thời bấy giờ tin rằng bất kỳ một vật thể lạ nào chạm vào tim cũng sẽ kích hoạt cơ chế sốc phản vệ và gây tử vong ngay lập tức. Khi đó, chẩn đoán bệnh tim chủ yếu dựa vào chiếc ống nghe, còn việc điều trị giống như trò may rủi.
Nhưng Werner Forssmann, một bác sĩ nội trú 25 tuổi người Đức, lại có một ý tưởng không tưởng: Tại sao không luồn một ống thông mềm từ mạch máu ở tay thẳng vào tim để truyền thuốc trực tiếp hoặc đo áp suất? Khi ông đem ý tưởng này trình bày với vị trưởng khoa, câu trả lời nhận được là một cái lắc đầu dứt khoát kèm lời đe dọa cấm hành nghề.
Bị dồn vào đường cùng, Forssmann quyết định tự mình thực hiện. Nhưng có một trở ngại lớn: Toàn bộ dụng cụ phẫu thuật vô trùng đều do nữ y tá trưởng Gerda Ditzen quản lý. Không có sự đồng ý của cô, ông không thể chạm vào một sợi chỉ, nói gì đến ống thông.
Thế là, mỹ nam kế bắt đầu. Ý thức được vẻ ngoài điển trai của mình, chàng bác sĩ trẻ liên tục tán tỉnh, dùng những lời mật ngọt để làm lung lạc trái tim cô y tá. Khi Gerda hoàn toàn đổ gục và biết được ý định của Forssmann, vì quá lo lắng cho tính mạng của người yêu, cô đã đưa ra một quyết định liều lĩnh: "Hãy làm thí nghiệm đó trên người em, em không muốn anh gặp nguy hiểm."
Đó chính là lúc cú lừa thế kỷ diễn ra. Forssmann giả vờ đồng ý. Ông bảo Gerda nằm lên bàn phẫu thuật, trói chặt tay chân cô lại với lý do "để tránh cử động nguy hiểm khi luồn ống". Nhưng ngay khi cô y tá không thể nhúc nhích, Forssmann liền quay lưng lại, tự tiêm thuốc tê vào cánh tay trái của chính mình.
Trước sự ngỡ ngàng và bất lực của Gerda, Forssmann tự rạch tay, tìm đến tĩnh mạch và bắt đầu đẩy một chiếc ống thông tiểu bằng cao su dài tới 60 cm ngược dòng máu đi lên phía vai. Khi chiếc ống đã đi được một nửa quãng đường, ông mới cởi trói cho Gerda và bảo cô gọi phòng X-quang.
Dù giận tím người vì bị lừa, nhưng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc của người tình, Gerda không còn cách nào khác ngoài việc dìu Forssmann – lúc này đang có một chiếc ống thọc sâu trong người – đi bộ xuống phòng X-quang ở tầng dưới. Dưới màn hình soi huỳnh quang, Forssmann lạnh lùng đẩy nốt nửa chiếc ống còn lại vào thẳng tâm nhĩ phải của tim mình và yêu cầu kỹ thuật viên bấm máy chụp lại làm bằng chứng. Tấm hình X-quang lịch sử đó cho thấy rõ ràng: Chiếc ống nằm gọn trong tim, còn Forssmann thì hoàn toàn tỉnh táo, nhịp tim vẫn đập bình thường.
Thay vì được tung hô, Forssmann phải đối mặt với một bi kịch kéo dài. Ông bị sa thải ngay sau đó vì vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Giới y học Đức coi ông như một kẻ tâm thần lập dị. Suốt nhiều năm sau, ông bị tẩy chay đến mức phải bỏ hẳn ngành tim mạch để chuyển sang làm bác sĩ phụ khoa và u học tại một ngôi làng nhỏ, rồi sau đó là chuỗi ngày làm tiều phu và rơi vào trại tập trung tù binh thời Thế chiến II.
Nhưng vàng thật thì không sợ lửa. Hơn 20 năm sau, hai nhà khoa học người Mỹ đã đọc được bài báo cũ của ông, ứng dụng phương pháp này để cứu sống hàng triệu bệnh nhân và mở ra kỷ nguyên mới cho ngành thông tim, can thiệp mạch vành. Năm 1956, Werner Forssmann được triệu tập từ một phòng khám vùng quê nghèo để đến Stockholm nhận giải Nobel Y học danh giá. Khi phóng viên đến phỏng vấn, ông chỉ cười lớn và nói: "Tôi cảm thấy mình giống như một mục sư làng bỗng một ngày thức dậy thấy mình được phong làm Giám mục vậy."
Từ một "kẻ điên" bị người đời ruồng rẫy cho đến chủ nhân giải thưởng Nobel, Werner Forssmann đã chứng minh rằng: Đôi khi để thay đổi thế giới, người ta không chỉ cần một cái đầu lạnh, một trái tim nóng, mà còn cần cả một chút "liều mạng" vô tiền khoáng hậu.
Và cả đẹp trai nữa
#HistoryNe
1 day ago | [YT] | 101
View 12 replies
History Nè
https://youtu.be/uFE7HfqOQig
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đầy rẫy những mưu mô và sự đối đầu nghẹt thở giữa các siêu cường, các cơ quan tình báo hàng đầu thế giới đã nghĩ ra đủ mọi chiêu trò điên rồ nhất để thao túng các nguyên thủ quốc gia. Nhưng có một câu chuyện hoàn toàn có thật, ly kỳ và hài hước tới mức vô tiền khoáng hậu về Tổng thống đầu tiên của Indonesia – ông Sukarno. Cả CIA (Mỹ) lẫn KGB (Liên Xô) đều đã lập những kế hoạch mật nhằm dùng "phim người lớn" để tống tiền ông, nhưng cái kết nhận về lại khiến các trùm mật vụ phải khóc dở mếu dở.
Vào những năm 1950, Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Sukarno là một quốc gia có vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng tại Đông Nam Á. Cả hai phe tư bản lẫn xã hội chủ nghĩa đều thèm khát kéo quốc gia này về phía mình. Tuy nhiên, Sukarno là một nhà chính trị cực kỳ khôn khéo và có lối sống rất phóng khoáng, đặc biệt là ông nổi tiếng với nết mê gái đẹp. Chính "điểm yếu chết người" này đã lọt vào tầm ngắm của các cơ quan mật vụ.
Đầu tiên là CIA. Nhận thấy phong cách đạo đức của các chính trị gia phương Tây rất sợ dính dáng tới bê bối tình ái, CIA tin rằng nếu tung ra một cuốn phim nhạy cảm của Sukarno, danh tiếng của ông sẽ tiêu tan trong một đêm, tạo điều kiện cho một chính quyền mới thân Mỹ lên thay thế. Đen đủi thay, CIA thời đó không cách nào tiếp cận và quay lén được ông. Thế là họ chơi một vố liều: Tự sản xuất một bộ phim giả mạo.
Cơ quan tình báo Mỹ đã chi rất nhiều tiền để tuyển một diễn viên có ngoại hình hơi giống Sukarno, thậm chí đặt làm một chiếc mặt nạ da người tinh vi để hóa trang. Bộ phim được đặt tên là "Happy Days" (Những ngày hạnh phúc). Nhưng vì sợ lộ mặt nạ giả, đạo diễn của CIA chỉ dám quay những góc máy rất xa và mờ ảo. Kết cục là khi đem đi thử nghiệm, bộ phim thất bại thảm hại. Khán giả chẳng ai thèm xem vì phim nhạy cảm mà góc quay xa tít tắp, chẳng nhìn rõ mặt ai với ai, chưa kể thời đó chưa có internet để phát tán rộng rãi.
Thấy Mỹ làm ăn dở quá, KGB của Liên Xô quyết định ra tay chuyên nghiệp hơn. Trong những chuyến công du của Sukarno đến Moscow, Liên Xô đã bí mật cài cắm một đội ngũ tiếp viên hàng không tóc vàng cực kỳ xinh đẹp để tháp tùng và tiếp đón ông. Tại căn biệt thự sang trọng dành cho nguyên thủ, KGB đã lắp đặt hệ thống camera giấu kín ở khắp mọi góc phòng. Và đúng như dự đoán, họ đã ghi lại được toàn bộ những thước phim mây mưa vô cùng sắc nét, chân thực của vị Tổng thống này.
KGB hí hửng biên tập thành một sản phẩm hoàn hảo, rồi cử các mật vụ cấp cao đem cuốn băng tới gặp thẳng Sukarno. Họ đĩnh đạc ra tối hậu thư: "Thưa Tổng thống, nếu ông không chịu hợp tác và có thái độ chính trị đàng hoàng với Liên Xô, cuốn phim sắc nét không che này sẽ được công chiếu rộng rãi ra toàn thế giới. Lúc đó danh dự của ông sẽ hoàn toàn đổ sông đổ biển".
Theo mọi logic thông thường của các điệp viên, Sukarno sẽ phải sợ hãi, quỳ gối xin tha và nhượng bộ. Nhưng không! Phản ứng của vị Tổng thống Indonesia lúc đó đã đi thẳng vào giai thoại tình báo thế giới. Thay vì hoảng loạn, Sukarno tỏ ra vô cùng hào hứng, mắt sáng rực lên và thản nhiên bảo các mật vụ KGB: "Trời đất ơi, quay đẹp và rõ nét dữ vậy sao? Mấy anh làm ơn in sao cho tôi thêm nhiều bản nữa được không? Để tôi đem về nước chiếu cho người dân của tôi coi chung cho vui"!
Các mật vụ Liên Xô nghe xong chỉ biết đứng hình, ôm đầu bứt tóc vì hoàn toàn bất lực. Họ đã tính toán sai một điều cốt lõi về văn hóa. Ở phương Tây, bê bối tình dục có thể giết chết một sự nghiệp chính trị; nhưng ở Indonesia thời bấy giờ, Sukarno là một vị vua không vương miện, và người dân nước ông lại cực kỳ sùng bái bản lĩnh nam tính của lãnh tụ. Việc có một cuốn phim chứng minh vị Tổng thống của họ vô cùng dũng mãnh trước các mỹ nhân phương Tây không những không làm ông mất uy tín, mà còn khiến dân chúng... nể phục và tự hào hơn về sức khỏe của nguyên thủ mình.
Kế hoạch "Mỹ nhân kế" tốn biết bao tâm huyết và tiền bạc của kịch bản Chiến tranh Lạnh cuối cùng phá sản hoàn toàn vì sự "trơ trẽn" và tự tin vô hạn của một ông Tổng thống thích sống thật với bản năng. Nhìn lại lịch sử để thấy, đôi khi những vũ khí tình báo tối tân và sắc bén nhất cũng phải chịu thua trước sự khác biệt về văn hóa và tâm lý của con người.
Và kĩ năng quay HD không che nữa 😚
#HistoryNe
2 days ago | [YT] | 67
View 4 replies
History Nè
#HistoryNe https://youtu.be/GOAnhDLLqQw
Có bao giờ bạn tự hỏi, ranh giới giữa một thiên tài lỗi lạc và một kẻ lập dị là gì không? Đôi khi, hai khái niệm đó thực chất chỉ là một. Lịch sử đã chứng minh rất nhiều bậc vĩ nhân sở hữu tài năng xuất chúng lại đi kèm với những thói quen kỳ quặc đến mức người đương thời phải lắc đầu ngao ngán. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất chính là Michelangelo Buonarroti – gã khổng lồ của thời kỳ Phục hưng Ý, người đã để lại cho nhân loại những kiệt tác điêu khắc và hội họa vô tiền khoáng hậu, nhưng cũng là người sở hữu lối sống "độc nhất vô nhị".
Nếu lật lại những trang sử về cuộc đời ông, chúng ta sẽ thấy một tài năng nở rộ từ rất sớm, sớm đến mức kinh ngạc. Khi mới chỉ 24 tuổi – cái tuổi mà nhiều người trong chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm hướng đi cho cuộc đời – Michelangelo đã khiến cả giới nghệ thuật bấy giờ chấn động với bức tượng "Đức Mẹ Sầu Bi" (Pieta). Khối đá cẩm thạch thô ráp, vô tri qua bàn tay đục đẽo của ông đã trở nên mềm mại, sống động và chứa chan cảm xúc như thể có một linh hồn đang ẩn giấu bên trong chỉ chờ ông giải phóng. Đến năm 29 tuổi, ông tiếp tục hoàn thành bức tượng chàng David cao lớn, một biểu tượng hoàn mỹ của vẻ đẹp con người. Bản thân Michelangelo luôn tự coi mình là một nhà điêu khắc, ông yêu tiếng búa đục đá hơn tất thảy. Thế nhưng, khi được giao nhiệm vụ vẽ vòm trần Nhà nguyện Sistine, ông lại tạo nên một một hệ thống bích họa vĩ đại mà đỉnh cao là bức "Sự sáng tạo ra Adam". Để hoàn thành nó, ông đã phải nằm ngửa trên giàn giáo suốt nhiều năm trời, chịu đựng cảnh sơn và bụi bặm rơi thẳng vào mặt, vào mắt, tạo nên một áp lực khủng khiếp cả về thể xác lẫn tinh thần.
Chính sự tập trung cao độ đến mức cực đoan đó đã nhào nặn nên một Michelangelo vô cùng lập dị. Các nghiên cứu hiện đại khi nhìn lại những ghi chép về ông đều đồng tình rằng vị danh họa này có những dấu hiệu rất rõ ràng của hội chứng tự kỷ. Ông dường như không có nhu cầu giao tiếp xã hội và gặp khó khăn lớn trong việc kết bạn. Ông không biết cách trò chuyện hay xã giao, nếu có ai đó đến bắt chuyện hoặc bàn công việc, ông thường chỉ nói vài câu cộc lốc rồi lẳng lặng bỏ đi mà không mảy may quan tâm đến cảm xúc của đối phương. Thậm chí, ngay cả đám tang của người anh trai ruột, ông cũng chọn cách không xuất hiện, đơn giản vì ông không biết phải đối mặt và nói năng thế nào trong những tình huống như vậy. Tất cả thế giới của ông chỉ thu bé lại xung quanh các tác phẩm và những khối đá.
Sự lập dị đỉnh điểm của Michelangelo nằm ở thói quen sinh hoạt khiến người đời sau phải rùng mình, đó là sở thích "ở dơ" có một không hai. Ai cũng biết vào thời Trung cổ và Phục hưng, việc vệ sinh cá nhân của con người vốn đã rất hạn chế vì người ta tin rằng tắm rửa nhiều sẽ rước bệnh vào người. Thế nhưng, ngay cả trong một xã hội không mấy sạch sẽ đó, Michelangelo vẫn được xếp vào hàng "siêu ở dơ". Ông có thể trải qua nhiều tuần liền không chạm vào một giọt nước. Khi đi ngủ, ông giữ nguyên quần áo trên người và thậm chí không buồn tháo giày. Ông đi những đôi giày da cũ kỹ từ ngày này qua ngày khác, hỏng thì sửa chứ không chịu thay mới. Người ta kể lại rằng, đến tận lúc ông qua đời, khi người ta cố gắng cởi bỏ đôi giày ra khỏi chân ông, thì cả mảng da chân cũng bong ra theo vì giày và da thịt đã tự bao giờ "hợp làm một" sau nhiều năm trời không tháo.
Kỳ lạ hơn nữa, dù tài năng xuất chúng giúp ông kiếm được những khoản thù lao khổng lồ từ các giáo hoàng và giới quý tộc, Michelangelo lại sống khổ hạnh như một kẻ nghèo khổ. Ông không màng đến quần áo đẹp, chẳng mộng cao lương mỹ vị, mỗi ngày chỉ ăn một chút thức ăn đạm bạc qua bữa. Ông cũng ngủ rất ít, thường chỉ chợp mắt vài tiếng ngay tại nơi làm việc khi cơ thể đã quá mệt mỏi, rồi thức dậy lại tiếp tục cầm đục, cầm cọ. Khi tạc tượng David, ông thậm chí còn cho dựng một bức tường cao bao quanh khu vực làm việc suốt ba năm trời để đảm bảo không một ai có thể dòm ngó hay làm phiền quá trình sáng tạo của mình.
Michelangelo đã sống một cuộc đời cô độc, xù xì và gai góc như chính những khối đá thô mà ông đối mặt mỗi ngày. Và sự lập dị, sự ám ảnh đến mức quên mình ấy mới là chất xúc tác để tạo nên một bộ óc thiên tài, để lại cho hậu thế những tạo tác vượt thời gian mà hàng trăm năm sau nhìn lại, chúng ta vẫn phải nghiêng mình thán phục
3 days ago | [YT] | 65
View 2 replies
History Nè
https://youtu.be/AnVJ_Cpkryw #HistoryNe
Đêm ngày 26 tháng 9 năm 1983, thế giới suýt chút nữa đã chìm trong thảm họa hạt nhân nếu không có cái đầu lạnh của một trung tá Liên Xô mang tên Stanislav Petrov.
Vào năm 1983, căng thẳng Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô đang ở mức cực kỳ đỉnh điểm sau vụ việc Liên Xô bắn hạ một máy bay hành khách của Hàn Quốc (chuyến bay KAL 007) vài tuần trước đó. Trong bầu không khí nhạy cảm ấy, Trung tá Stanislav Petrov thuộc Lực lượng Phòng không Không quân Liên Xô được phân công làm sĩ quan trực ban tại Serpukhov-15, một trung tâm chỉ huy boong-ke bí mật nằm ở ngoại ô Moscow, có nhiệm vụ vận hành và giám sát hệ thống vệ tinh cảnh báo sớm mang tên "Oko".
Ngay sau nửa đêm, vào lúc 0h15, bầu không khí yên tĩnh của boong-ke bất ngờ bị phá vỡ. Hệ thống máy tính trung tâm kích hoạt còi báo động dữ dội, đèn đỏ bật sáng rực cùng dòng chữ "LAUNCH" (Phóng) xuất hiện trên màn hình. Hệ thống vệ tinh thông báo một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đã được phóng đi từ một căn cứ quân sự ở Mỹ và đang bay thẳng về phía Liên Xô.
Theo đúng quy trình nghiêm ngặt và học thuyết quân sự thời bấy giờ, Petrov có nhiệm vụ phải lập tức báo cáo tín hiệu cảnh báo này lên chuỗi chỉ huy tối cao của quân đội Liên Xô. Từ thông tin của ông, Điện Kremlin sẽ chỉ có khoảng vài phút để ra quyết định kích hoạt một đòn phản công hạt nhân toàn diện nhằm vào nước Mỹ trước khi tên lửa kịp khai hỏa mục tiêu.
Tuy nhiên, thay vì hoảng loạn nhấc máy gọi cho cấp trên, Petrov đã chọn đứng im và suy ngẫm. Giữa tiếng còi báo động inh ỏi, máy tính tiếp tục nhảy cấp độ nguy hiểm lên mức tối cao: "MISSILE STRIKE" (Tấn công tên lửa). Hệ thống liên tiếp báo cáo thêm quả tên lửa thứ 2, thứ 3, thứ 4 rồi thứ 5 được phóng đi. Tổng cộng có 5 quả tên lửa liên lục địa đang hướng về phía họ. Các nhân viên cấp dưới trong boong-ke đều rơi vào trạng thái căng thẳng tột độ, đồng loạt nhìn về phía Petrov để chờ lệnh.
Trong khoảnh khắc sinh tử quyết định vận mệnh của hàng triệu sinh mạng, Trung tá Petrov đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: Ông bỏ qua quy trình bắt buộc và gọi điện báo cáo với cấp trên rằng đây hoàn toàn là một báo động giả của hệ thống máy tính. Quyết định của Petrov không phải là một sự liều lĩnh vô căn cứ, mà dựa trên hai lập luận logic vô cùng sắc bén:
Thứ nhất, Petrov biết rõ hệ thống máy tính và vệ tinh cảnh báo sớm "Oko" của Liên Xô lúc đó mới được đưa vào vận hành chưa lâu và vẫn tồn tại nhiều lỗi kỹ thuật. Bản thân ông là một kỹ sư có chuyên môn về hệ thống, nên ông không hoàn toàn tin tưởng vào độ chuẩn xác của máy móc. Đồng thời, khi ông liên hệ với các toán vận hành radar mặt đất, các trạm này báo cáo hoàn toàn không phát hiện bất kỳ mục tiêu nào ở đường chân trời.
Thứ hai, đây là lập luận quan trọng nhất thuộc về tư duy chiến lược. Petrov cho rằng, nếu nước Mỹ thực sự phát động một cuộc tấn công phủ đầu nhằm xóa sổ hoàn toàn khả năng đối kháng của Liên Xô, họ chắc chắn sẽ tung ra một làn sóng tấn công khổng lồ với hàng trăm, hàng ngàn quả tên lửa cùng lúc để áp đảo đối phương. Việc hệ thống chỉ báo vỏn vẹn 5 quả tên lửa phóng đi là một điều hoàn toàn phi logic về mặt quân sự.
Petrov đã chọn tin vào trực giác và tư duy của con người thay vì tin vào máy tính. Ông ôm đầu chờ đợi trong căng thẳng. Sau hơn 20 phút nghẹt thở trôi qua, các trạm radar mặt đất vẫn im ắng và không có bất kỳ vụ nổ nào xảy ra. Ván cược mạng sống của ông đã hoàn toàn chính xác. Thế chiến thứ ba đã được ngăn chặn thành công chỉ nhờ một cái đầu lạnh.
Cuộc điều tra kỹ lưỡng của các kỹ sư Liên Xô sau đó đã tìm ra nguyên nhân cốt lõi của sự cố. Hệ thống vệ tinh cảnh báo sớm của Liên Xô thực chất đã bị đánh lừa bởi một hiện tượng tự nhiên cực kỳ hiếm gặp. Đó là sự căn chỉnh hoàn hảo về mặt vị trí giữa quỹ đạo vệ tinh, các đám mây ở độ cao lớn và ánh sáng mặt trời. Ánh nắng phản chiếu mạnh từ các đám mây đã vô tình tạo ra các vệt sáng hồng ngoại, khiến cảm biến của vệ tinh nhận diện nhầm thành đuôi lửa của các tên lửa đạn đạo đang phóng đi.
Tuy vậy, Stanislav Petrov không hề được vinh danh hay khen thưởng vì quân đội Liên Xô không muốn để lộ lỗ hổng của hệ thống phòng thủ. Ông thậm chí còn bị khiển trách vì không ghi chép đầy đủ nhật ký tác chiến trong đêm xảy ra sự cố. Câu chuyện của ông chỉ được bước ra ánh sáng vào thập niên 1990.
Máy móc dẫu có hiện đại đến đâu cũng có thể gặp sai sót. Hòa bình thế giới mà chúng ta đang thừa hưởng ngày hôm nay đôi khi không phải được bảo vệ bởi những vũ khí tối tân, mà được cứu nguy bởi bản lĩnh, quy trình kiểm duyệt nghiêm ngặt và sự sáng suốt của con người trước những lầm tưởng kỹ thuật.
#HistoryNe
3 days ago | [YT] | 72
View 0 replies
History Nè
https://youtu.be/5yyC57QCpdg Chủ đề #HistoryNe hôm nay là về Leonardo Da Vinci mọi người ơi. Từ giờ mọi người sẽ đc coi clip thường xuyên hơn trên kênh lịch sử này, nên nhớ follow sub và donate để kênh có động lực hơn nhaaaa. 2 kênh kia là @MrDualeone và @Tamlynene đó.
Donate: Momo 0932539510 or VCB 0441003723804, Nguyễn Lê Minh Ngọc or Paypal @MrDualeone or patreon.com/dualeone or Venmo HuyNguyenNe or Zelle dualeone@gmail.com or Binance P2P 11325171 nha
Cách shrae clip trên fb nhiều tương tác
Bước 1: download và post ibb.co/yB50nr65
Bước 2: post https://youtu.be/5yyC57QCpdg trong comment
1 week ago | [YT] | 35
View 0 replies
History Nè
Làm sao để Việt Nam có Steve Jobs, Elon Musk? 4h clip online giúp bạn biết ngay nhaaa
2 weeks ago | [YT] | 216
View 1 reply
History Nè
Mọi người ơi, lúc trước yt này chuyên review. Nhưng hiện tại việc review đã chuyển qua kênh @MrDualeone là chủ yếu, còn kênh chỉ tập trung vào những chủ đề lịch sử #HistoryNe . Mục đích tách kênh là để giúp mọi người dễ tập trung theo dõi từng chủ đề hơn là đang thích coi lịch sử thì phải coi review manga. Mọi người follow kênh nhennn
3 weeks ago | [YT] | 126
View 6 replies
History Nè
Trưa nay 11h lên clip review 1 sản phẩm quần áo tiện lợi cho nam nè!!
6 years ago | [YT] | 59
View 2 replies
History Nè
11h45 lại lên 1 clip review cực hay nha!
6 years ago | [YT] | 77
View 0 replies
History Nè
Hôm nay review quán ăn 1 cái nha!!
6 years ago | [YT] | 84
View 1 reply
Load more